CÁC LỘ TRÌNH VÀ NGUYÊN TẮC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG BẠI NÃO CỦA BỘ Y TẾ 2018


  Giới thiệu các lộ trình và nguên tắc phục hồi chức năng trẻ bại não của Bộ Y Tế 2018

1. Phục hồi chức năng trẻ bại não

 
Tổ chức Y tế Thế giới(WHO) mô tả phục hồi chức năng là "một tập hợp các biện pháp hỗ trợ những người đang chịu đựng, hoặc có khả năng gặp phải, tình trạng khuyết tật [do khiếm khuyết, bất kể xảy ra khi nào (bẩm sinh, mắc phải)] nhằm đạt được và duy trì hoạt động chức năng tối ưu trong mối tương tác với môi trường của họ". "Các biện pháp phục hồi chức năng nhắm vào các cấu trúc và chức năng của cơ thể, các hoạt động và sự tham gia, các yếu tố cá nhân và các yếu tố môi trường" (WHO, 2011). 
 
Phục hồi chức năng có thể bao gồm nhiều hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong lĩnh vực y tế, phục hồi chức năng tác động đến các bệnh lý và khiếm khuyết mạn tính hoặc kéo dài với mục tiêu đảo ngược hoặc hạn chế ảnh hưởng của chúng. Các dịch vụ có thể bao gồm: Ngôn ngữ trị liệu, vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu, cung cấp các dụng cụ trợ giúp và các phẫu thuật đặc biệt để chỉnh sửa các biến dạng và các loại khiếm khuyết khác. 
 
Các hoạt động chính của chăm sóc PHCN bao gồm: 
 

  • Sàng lọc và lượng giá đa ngành

  • Xác định các khó khăn về chức năng và đo lường các khó khăn đó

  • Lập kế hoạch điều trị thông qua thiết lập mục tiêu

  • Cung cấp các biện pháp can thiệp có thể đem lại sự thay đổi hoặc hỗ trợ cho cá nhân đối phó với thay đổi kéo dài

  • Đánh giá hiệu quả của can thiệp

  • Báo cáo 

 
2. Học kỹ năng cho trẻ bại não
 
Học kỹ năng (cho người khuyết tật) bao gồm các can thiệp giúp cá nhân duy trì, học hỏi, hoặc cải thiện các kỹ năng và hoạt động chức năng trong cuộc sống hàng ngày. Vấn đề trọng tâm là học các kỹ năng mới khi một trẻ sinh ra có khuyết tật ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường (và do đó đạt được kỹ năng bình thường). Đây là những kỹ năng mà chỉ có thể thành thạo thông qua các dịch vụ điều trị có mục đích và có kỹ thuật. 
 
Ví dụ bao gồm dạy một trẻ bại não còn nhỏ cách lăn lật, ngồi không cần trợ giúp, đứng, đi lần đầu tiên. Cũng có thể bao gồm dạy trẻ bại não lớn hơn đi xe đạp, cầm bút chì và viết, bắt/ném một quả bóng lần đầu tiên. 
 
 
3. Quy trình Phục hồi chức năng trẻ bại não
 
Tiếp cận phục hồi chức năng truyền thống đi theo một quy trình: 
 
3.1. Lượng giá trẻ bại não
 

  • Lượng giá người bệnh và xác định, định lượng các nhu cầu; 

 
3.2. Thiết lập Mục tiêu điều trị trẻ bại não
 

  •  Trên cơ sở lượng giá, xác định các mục tiêu PHCN cho người bệnh. Đây có thể là các mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn;

  •  Xây dựng kế hoạch để đạt được các mục tiêu này 

 
3.3. Can thiệp trẻ bại não 
 

  •  Cung cấp các can thiệp phù hợp để đạt được các mục tiêu; 

 
3.4. Tái lượng giá trẻ bại não
 

  •  Lượng giá tiến triển của người bệnh nhằm xem xét việc can thiệp có đạt được các mục tiêu đã được thống nhất hay không. Nếu không thì có thể xem xét lại các mục tiêu và điều chỉnh các can thiệp. 

 
4. Khung ICF 
 
4.1. Khung ICF là gì? 
 
Phục hồi chức năng có thể được tóm tắt trong mô hình ICF (Phân loại quốc tế về Hoạt động Chức năng, Khuyết tật và Sức khoẻ) do WHO xây dựng (2001). ICF khái niệm hoá mức độ hoạt động chức năng của một cá nhân là một sự tương tác động giữa tình trạng sức khoẻ của họ với các yếu tố môi trường và các yếu tố cá nhân. Đây là một mô hình sinh lý- tâm lý- xã hội, dựa trên sự tích hợp của các mô hình xã hội và mô hình y học về khuyết tật. Tất cả các thành phần của khuyết tật đều quan trọng và bất kỳ thành phần nào cũng có thể tương tác với thành phần khác. Cần phải xem xét các yếu tố môi trường vì chúng ảnh hưởng đến các thành phần khác và có thể cần phải thay đổi. 

 Chức năng cơ thể là các chức năng sinh lý hoặc tâm lý của các hệ thống cơ thể.

  •  Cấu trúc cơ thể là các bộ phận giải phẫu của cơ thể như là các cơ quan, chi thể và các thành phần của chúng.
  •  Khiếm khuyết là những vấn đề về chức năng hoặc cấu trúc của cơ thể như sai lệch đáng kể hoặc mất mát.
  •  Hoạt động là thực hiện một nhiệm vụ hoặc hành động của một cá nhân.
  •  Giới hạn hoạt động là những khó khăn mà cá nhân có thể gặp phải khi thực hiện các hoạt động.
  •  Tham gia là sự tham gia của cá nhân vào các tình huống cuộc sống liên quan đến các tình trạng sức khoẻ, các cấu trúc và chức năng cơ thể, các hoạt động và các yếu tố hoàn cảnh.
  •  Hạn chế tham gia là những vấn đề cá nhân có thể gặp phải trong cách thức hoặc mức độ tham gia vào các tình huống cuộc sống.
  •  Yếu tố môi trường Các yếu tố này bao gồm các yếu tố vật lý (như khí hậu, địa hình hoặc thiết kế nhà cửa) đến các yếu tố xã hội (như các thái độ, thể chế, luật pháp).
  •  Yếu tố cá nhân bao gồm chủng tộc, giới, trình độ giáo dục, các kiểu ứng phó... 

Ví dụ: 
 

  •  Rối loạn về sức khoẻ: Bại não
  •  Khiếm khuyết về cấu trúc/chức năng cơ thể: Tăng trương lực cơ ở chi trên và chi dưới; co cứng
  •  Giới hạn hoạt động: Không thể mặc áo sơ mi hoặc quần; không thể sử dụng dụng cụ (thìa/đũa) để tự ăn; không thể đi lại
  •  Hạn chế tham gia: Khó khăn khi ăn cùng với gia đình và ngoài cộng đồng; khó đi đến trường; không thể chơi/giao lưu với những đứa trẻ cùng lứa tuổi
  •  Yếu tố về môi trường: Khả năng tiếp cận các cơ sở công cộng, trường học
  •  Yếu tố cá nhân: tuổi và giới tính của trẻ; động cơ của trẻ 

 
Khuyến cáo: >ICF nên được áp dụng như là khung suy luận để hướng dẫn các dịch vụ phục hồi chức năng ở Việt Nam 
 
4.2. ICF, Phục hồi chức năng và Bại não 
 
Các hướng dẫn này đã được xây dựng dựa trên Khung Phân loại Quốc tế về Hoạt động Chức năng, Khuyết tật và Sức khoẻ (ICF) để hướng dẫn tư duy lâm sàng và cung cấp các dịch vụ cho trẻ bại não và gia đình của trẻ. 
 
Việc sử dụng ICF như một khung suy luận trong thực hành lâm sàng cung cấp cho các nhân viên y tế một hướng dẫn để lựa chọn các công cụ đo lường, để cung cấp thông tin cho quá trình thiết lập mục tiêu và ra quyết định và để xác định các kết quả có ý nghĩa đối với trẻ bại não và gia đình của trẻ (Rosenbaum và Stewart 2004). Việc sử dụng ICF trong xử trí bại não cho phép chúng ta mở rộng cách nghĩ của mình từ việc "khắc phục" những khiếm khuyết ban đầu sang một quan điểm xem việc thúc đẩy hoạt động chức năng và tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia đầy đủ vào mọi mặt của cuộc sống có giá trị tương đương (Rosenbaum & Stewart 2004). 
 
Nói cách khác, trẻ bại não cần được lượng giá và được cung cấp các biện pháp can thiệp, khi có thể được, trong những lĩnh vực khác nhau của cuộc sống bao gồm (nhưng không chỉ giới hạn) các môi trường ở nhà, trường học, vui chơi giải trí hoặc các môi trường khác, để có thể hiểu biết đầy đủ về các khả năng chức năng của trẻ trong các môi trường khác nhau và tạo thuận lợi cho sự hoà nhập đầy đủ vào cuộc sống cộng đồng. Điều này đòi hỏi phải xây dựng/tăng cường các mối quan hệ hoặc hợp tác với các tổ chức từ thiện địa phương, các tổ chức phi chính phủ và các dự án Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (CBR) để tạo điều kiện chăm sóc liên tục khi trẻ bại não xuất viện. 
 
5. Chăm sóc lấy người bệnh và gia đình làm trung tâm 
 
5.1. Tiếp cận lấy người bệnh làm trung tâm 
 Thực hành tốt nhất trong cung cấp dịch vụ cho trẻ bại não và gia đình trẻ là áp dụng các tiếp cận lấy người bệnh làm trung tâm và lấy gia đình làm trung tâm. 
 
Điều trị và chăm sóc cần xét đến các nhu cầu và sở thích của cá nhân. Người bệnh cần có cơ hội đưa ra những quyết định sau khi đã được cung cấp đầy đủ thông tin về phương pháp chăm sóc và điều trị của họ, cùng với các nhân viên y tế. Nếu người bệnh đồng ý, gia đình và người chăm sóc nên tạo điều kiện tham gia vào các quyết định về điều trị và chăm sóc. Gia đình và người chăm sóc cũng cần được cung cấp thông tin và hỗ trợ khi họ cần (NICE, 2014) 
 
Cách tiếp cận lấy người bệnh làm trung tâm nên là cơ sở cho quá trình thiết lập mục tiêu. Các mục tiêu điều trị dễ dàng đạt được hơn nếu người bệnh tham gia trong quá trình thiết lập chúng. Hơn nữa, bằng chứng cho thấy quá trình thiết lập mục tiêu như vậy có một tác dụng điều trị tích cực, khuyến khích người bệnh đạt được các mục tiêu của họ. (Hurn và cộng sự, 2006) 
 
Thực hành lấy người bệnh làm trung tâm đặt cá nhân người bệnh ở trung tâm và nhấn mạnh việc xây dựng mối quan hệ đối tác với trẻ bại não và gia đình của trẻ, là những thành viên có giá trị của nhóm phục hồi. Tiếp cận này nhấn mạnh bốn khía cạnh: 
 

  •  Mỗi cá nhân là duy nhất
  •  Mỗi cá nhân là một chuyên gia trong cuộc sống của chính họ
  •  Quan hệ đối tác là chìa khóa
  •  Tập trung vào các điểm mạnh của cá nhân 

 
Thực hành lấy người bệnh làm trung tâm trao quyền và sự kiểm soát cho người bệnh và gia đình họ. Nó điều chỉnh các hỗ trợ để đạt được các mục tiêu và tương lai của người bệnh và nhằm mục đích hòa nhập xã hội, đạt được các vai trò có giá trị và sự tham gia vào cộng đồng. 
 
5.2. Tiếp cận lấy gia đình làm trung tâm 
 
Thực hành lấy gia đình làm trung tâm áp dụng một triết lý tương tự với thực hành lấy người bệnh làm trung tâm và hơn nữa, thừa nhận rằng gia đình và người chăm sóc là những người ra quyết định quan trọng khi làm việc với trẻ bại não. Thực hành lấy gia đình làm trung tâm bao gồm một tập hợp các giá trị, thái độ và cách tiếp cận các dịch vụ cho trẻ bại não và gia đình của trẻ. Gia đình làm việc với những người cung cấp dịch vụ để đưa ra những quyết định sau khi được cung cấp đầy đủ thông tin về các dịch vụ và hỗ trợ mà trẻ và gia đình nhận được. Trong tiếp cận lấy gia đình làm trung tâm, cần xem xét những điểm mạnh và nhu cầu của tất cả các thành viên trong gia đình và người chăm sóc. Gia đình xác định các ưu tiên của can thiệp và các dịch vụ. Tiếp cận này dựa trên các tiền đề rằng các gia đình biết điều gì tốt nhất cho trẻ, các kết quả hồi phục tối ưu trong môi trường hỗ trợ của gia đình và cộng đồng và rằng mỗi gia đình là duy nhất. Dịch vụ cung cấp sự hỗ trợ và tôn trọng các năng lực, nguồn lực của mỗi gia đình. Năng lực gia đình bao gồm kiến thức 

và những kỹ năng mà gia đình cần để hỗ trợ các nhu cầu và sức khoẻ của trẻ. Năng lực là mức năng lượng thể chất, trí tuệ, tình cảm và tâm linh cần thiết để hỗ trợ trẻ bại não và nó ảnh hưởng trực tiếp đến cảm giác có năng lực mà một thành viên trong gia đình trải qua khi chăm sóc một trẻ bại não. 
 
5.3. Trao quyền cho phụ huynh  
 
Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa sự trao quyền là một quá trình mà qua đó con người đạt được sự kiểm soát nhiều hơn đến các quyết định và hành động ảnh hưởng đến sức khoẻ của họ. 
 
Thực hành lấy gia đình làm trung tâm hỗ trợ việc trao quyền cho phụ huynh. Những ví dụ các hành động mà nhà cung cấp dịch vụ nên áp dụng để thúc đẩy thực hành lấy gia đình làm trung tâm và trao quyền cho phụ huynh bao gồm: 
 

  •  Khuyến khích phụ huynh ra quyết định trong mối quan hệ hợp tác với các thành viên khác trong nhóm (để sử dụng các chiến lược trao quyền cho gia đình.)
  •  Trợ giúp các gia đình xác định các điểm mạnh của họ và xây dựng các nguồn lực của họ.
  •  Cung cấp thông tin, trả lời và tư vấn cho bố mẹ (để khuyến khích các lựa chọn có đầy đủ thông tin).
  •  Hợp tác với bố mẹ và trẻ và giúp họ xác định và sắp xếp ưu tiên các nhu cầu của họ theo quan điểm riêng của họ.
  •  Phối hợp với các bố mẹ ở tất cả các cấp độ (chăm sóc từng trẻ, xây dựng, thực hiện và đánh giá chương trình, hình thành chính sách).
  •  Cung cấp các dịch vụ có thể tiếp cận mà không làm gia đình quá tải về công việc giấy tờ và quan liêu hành chính.
  •  Chia sẻ thông tin đầy đủ về việc chăm sóc trẻ một cách liên tục.
  •  Tôn trọng các giá trị, mong muốn và những ưu tiên của gia đình.  Chấp nhận và hỗ trợ các quyết định của gia đình.
  •  Lắng nghe.
  •  Cung cấp các dịch vụ linh hoạt và tuỳ theo từng cá nhân (và để đáp ứng với các nhu cầu thay đổi của gia đình).
  •  Am hiểu và chấp nhận sự đa dạng giữa các gia đình (về chủng tộc, sắc tộc, văn hoá và kinh tế xã hội).
  •  Tin tưởng và tin cậy các phụ huynh.
  •  Giao tiếp bằng ngôn ngữ dễ hiểu với phụ huynh.
  •  Cân nhắc và nhạy cảm với nhu cầu tâm lý xã hội của tất cả các thành viên trong gia đình.
  •  Tạo môi trường khuyến khích sự tham gia của tất cả các thành viên trong gia đình.
  •  Tôn trọng kiểu ứng phó của gia đình mà không đánh giá đúng sai.
  •  Khuyến khích sự hỗ trợ của các gia đình với nhau và sử dụng các hỗ trợ và nguồn lực từ cộng đồng
  •  Nhận ra và xây dựng dựa trên các điểm mạnh của gia đình và của trẻ. 

(Các Tiền đề, các Nguyên lý và Các yếu tố của Dịch vụ chăm sóc lấy Gia đình làm Trung tâm. Mary Law, Peter Rosenbaum, Gillian King, Susanne King, Jan Evans, 2003) 
 
Khuyến cáo: > Các dịch vụ phục hồi chức năng nên áp dụng các triết lý về thực hành lấy người bệnh và gia đình làm trung tâm và trao quyền cho phụ huynh 
 
6. Bình đẳng giới trong sức khoẻ 
 
Bình đẳng giới trong sức khoẻ có nghĩa là nữ và nam, trong suốt cuộc đời và trong tất cả sự đa dạng của họ, đều có cùng điều kiện và cơ hội để thực hiện đầy đủ các quyền và tiềm năng của mình để được khỏe mạnh, góp phần vào phát triển sức khoẻ và hưởng lợi từ các kết quả đó. (WHO, 2015) 
 
Cần tách dữ liệu và tiến hành các phân tích về giới để xác định những khác biệt về giới trong các nguy cơ và cơ hội về sức khoẻ và để thiết kế các can thiệp y tế thích hợp. 
 
Giải quyết bất bình đẳng giới nâng cao khả năng tiếp cận và hưởng lợi từ các dịch vụ y tế. Cần khuyến khích phát triển các chương trình sức khoẻ đáp ứng về giới được thực hiện phù hợp và đem lại lợi ích cho nam và nữ. Nó sẽ trợ giúp phòng ngừa bại não và các sáng kiến đạt được các mục tiêu và mục đích chiến lược của mình nhằm làm giảm sự bất bình đẳng về sức khoẻ và tạo ra một sự khác biệt cho cuộc sống của nữ và nam giới bằng cách nâng cao chất lượng các dịch vụ được cung cấp liên quan đến dự phòng, chẩn đoán và điều trị bại não và cải thiện kết quả của người bệnh. 
 
7. Tổ chức các dịch vụ Phục hồi chức năng 
 
7.1. Tình hình hiện tại 
 
Phục hồi chức năng bao gồm nhiều khu vực (các cơ quan chính phủ, các trung tâm y tế, các cơ sở giáo dục), thể hiện những thách thức liên quan đến việc ưu tiên các nhu cầu, xác định các nguồn lực sẵn có và phối hợp đào tạo giữa các khu vực, ở tất cả các cấp. Có một số cơ quan chính phủ, các hiệp hội, các tổ chức chăm sóc sức khoẻ, các tổ chức phi chính phủ và các cơ sở giáo dục có vai trò trong việc đào tạo các chuyên gia PHCN và cung cấp các dịch vụ PHCN. Những cơ sở này bao gồm (nhưng không chỉ giới hạn ở): 
 

  •  Bộ Y tế và các Ban ngành liên quan
  •  Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
  •  Các bệnh viện tuyến trung ương, tỉnh và huyện (các khoa PHCN của các bệnh viện)
  •  Các trường đại học và cao đẳng Y
  •  Các Trung tâm PHCN chuyên khoa (công lập và tư lập)
  •  Hội Phục hồi chức năng Việt Nam (VINAREHA)
  •  Các tổ chức phi chính phủ
  •  Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng 


 Theo Bộ Y tế, có ba cấp độ bệnh viện - tuyến trung ương, tỉnh và huyện. Không phải tất cả các tỉnh của Việt Nam đều có bệnh viện PHCN của tỉnh, tuy nhiên hầu hết các bệnh viện tuyến tỉnh đều có Khoa Y học Cổ truyền cung cấp các dịch vụ PHCN. Trong khi hầu hết các bệnh viện PHCN đều thuộc Bộ Y tế, một số bệnh viện do các tổ chức tư nhân và các Bộ khác quản lý như Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. 
 
Trẻ bại não có bảo hiểm y tế gồm cả các dịch vụ PHCN tại các bệnh viện công lập ở tuyến trung ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện, được chăm sóc nội trú hoặc ngoại trú. Loại và mức độ của các dịch vụ PHCN có thể khác nhau và phụ thuộc vào bảo hiểm y tế của trẻ, tuổi giới thiệu và cơ chế giới thiệu dịch vụ. 
 
Các Khuyến cáo:

  •  Cần phải xem lại cách tiếp cận hiện tại đối với việc cung cấp các dịch vụ PHCN cho trẻ bại não để tăng cường khả năng/tính linh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu của trẻ và gia đình trong cộng đồng theo khung ICF.
  • Cần tìm hiểu tác động của việc can thiệp dựa vào bệnh viện liên tục cho trẻ bại não lên cuộc sống của các gia đình và sự tham gia trong các hoạt động sống đặc biệt là các cơ hội học tập (trường mầm non và trường học cho trẻ và công việc/các hoạt động cộng đồng cho bố mẹ và người chăm sóc). 

 
7.2. Các Khuyến cáo đối với Khoa Phục hồi chức năng 
 
Báo cáo của WHO, Phục hồi chức năng trong Hệ thống Y tế (2017), đưa ra các khuyến cáo để hỗ trợ nhu cầu về các dịch vụ PHCN ngày càng tăng trên thế giới. Các nghiên cứu gần đây về các giá trị và sự ưa thích, tính chấp nhận và tính khả thi của các dịch vụ có chất lượng ủng hộ việc lồng ghép PHCN trong và giữa các cấp ban đầu, hạng hai và hạng ba của hệ thống y tế. Báo cáo của WHO, các khuyến cáo kêu gọi sự phối hợp tốt hơn giữa các cấp chăm sóc sức khoẻ và các khu vực để tăng cường tối đa hiệu quả của các dịch vụ và tối ưu các kết quả sức khoẻ: 
 

  •  Tích hợp các dịch vụ PHCN ở tất cả các cấp có thể tạo điều kiện cho việc chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm.
  •  Đảm bảo có sẵn các dịch vụ PHCN ở mỗi cấp với các cơ chế phối hợp, để PHCN có thể liên tục nếu cần thiết nhằm hỗ trợ các gia đình và chăm sóc tổng thể người bệnh.
  •  Các gia đình và người bệnh sẽ có các nhu cầu khác nhau về các loại và cường độ PHCN ở các cấp khác nhau của hệ thống y tế vì họ có thể di chuyển giữa cấp ban đầu, hạng hai và hạng ba trong quá trình chăm sóc của họ.
  •  Mức độ chăm sóc và các loại dịch vụ PHCN phụ thuộc vào gia đình và nhu cầu của người bệnh và các can thiệp có sẵn để giải quyết các mục tiêu chính của PHCN. 

Các Khuyến cáo: 

>Tất cả các cấp chăm sóc sức khoẻ cần phải có các dịch vụ phục hồi chức năng.

> Các khoa PHCN cần thiết lập và duy trì các liên kết/mối quan hệ chặt chẽ với các khoa khác trong bệnh viện, đặc biệt là sức khoẻ bà mẹ, sản phụ khoa, nhi khoa, thần kinh và y học cổ truyền, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giới thiệu và chăm sóc trẻ nhỏ có nguy cơ cao về bại não và để chăm sóc trẻ bại não được liên tục. 
 
7.3. Quản lý dịch vụ Phục hồi chức năng và cải thiện dịch vụ 
 
(I) Nhân lực và nguồn lực  
 
Cần có đầy đủ các thành viên trong nhóm với nền tảng lý thuyết và thực hànhphù hợp để cung cấp các chương trình chăm sóc toàn diện, dựa trên chứng cứ. Các thành viên trong nhóm đa chuyên ngành nên áp dụng cách tiếp cận liên ngành (xem mục 2.7 để biết thêm chi tiết). 
 
Điều quan trọng hơn là cung cấp điều trị đúng chứ không phải chỉ ra rằng thành viên nào trong nhóm nên thực hiện chăm sóc. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các vùng nông thôn và vùng sâu, vùng xa nơi mà người dân không tiếp cận được với tất cả nhân viên y tế như được khuyến cáo. 
 
Việc áp dụng PHCN từ xa như một mô hình dịch vụ liên kết các chuyên gia/nhân viên y tế có trình độ với các trung tâm/gia đình ở xa có thể giúp khắc phục sự thiếu hụt nhân lực ở các trung tâm ít nguồn lực hơn, và các khu vực không có các dịch vụ; tuy nhiên, cam kết về nguồn lực tại trung tâm lớn cũng cần được tính vào số nhân lực. 
 
(II) Các triết lý thực hành  
 
Phục hồi chức năng cần phải làm trung tâm. Các nhân viên y tế cần hướng tới và tạo sự hợp tác như nhau trong việc chăm sóc với các bệnh nhân, gia đình và những người có ý nghĩa khác. Cần xác định các mục tiêu, các hoạt động và ưu tiên thông qua hợp tác thiết lập mục tiêu (xem mục 2.6 dưới đây để biết thêm chi tiết). 
 
Cung cấp dịch vụ phải dựa trên chứng cứ. Cần được thực hiện các quá trình nhằm thúc đẩy việc thực hiện chứng cứ và thực hành tốt để chăm sóc an toàn và hiệu quả. Cần hỗ trợ thực hành dựa trên chứng cứ thông qua các hoạt động phát triển chuyên môn, giảng dạy, nghiên cứu chất lượng và đảm bảo chất lượng. 
 
(III) Các khía cạnh thiết yếu của chăm sóc phục hồi chức năng cho trẻ bại não: 
 

  •  Chẩn đoán sớm
  •  Can thiệp sớm
  •  Lượng giá và xử lý rối loạn vận động
  •  Lượng giá các kỹ năng chức năng và tăng cường tối đa các khả năng (nhận thức, vận động, giao tiếp, ăn uống) 
  •  Lượng giá và xử lý các tình trạng sức khỏe phối hợp
  •  Chỉ định và cung cấp các dụng cụ kỹ thuật trợ giúp và thích ứng phù hợp 

 
Ngoài ra, việc thành lập một sổ quản lý bại não quốc gia sẽ xác định tỷ lệ hiện mắc bại não ở Việt Nam. Việc quản lý cũng sẽ giúp theo dõi và đánh giá các kết quả điều trị. 
 
Các Khuyến cáo:

>Phục hồi chức năng từ xa là một biện pháp để cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ PHCN cho các trẻ và gia đình ở các vùng nông thôn và vùng sâu vùng xa của Việt Nam. Cần xem đây là một biện pháp hỗ trợ trẻ và gia đình sau khi xuất viện. Cần phải tính toán nguồn nhân lực phù hợp.

> Các khoa PHCN cần thiết lập các cơ chế để đánh giá lại các dịch vụ một cách thường xuyên và tạo điều kiện cho các thành viên của nhóm theo kịp các tiếp cận thực hành tốt nhất để phục hồi chức năng cho trẻ bại não và để cải thiện chất lượng dịch vụ.

> Các khoa PHCN cần thiết lập các chỉ số hoạt động chính (KPIs) để theo dõi hiệu quả của dịch vụ. Các lĩnh vực hoạt động chính bao gồm giám sát các lộ trình giới thiệu/chẩn đoán sớm, nhập viện, lượng giá và lập kế hoạch (bao gồm cả thực hành lấy người bệnh/gia đình làm trung tâm), cung cấp dịch vụ (bao gồm cả thực hành dựa vào chứng cứ, EBP), các kết quả trên người bệnh, giáo dục bố mẹ/người chăm sóc/gia đình và các lộ trình chuyển tuyến/xuất viện. Nếu có thể, những lĩnh vực hoạt động chính này nên là chuẩn mực ở Việt Nam. 
 
8. Các nhóm đa chuyên ngành và tiếp cận nhóm liên ngành 
 
Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán và PHCN trẻ bại não đòi hỏi một nhóm đa chuyên ngành sử dụng cách tiếp cận nhóm liên ngành. 
 
Các thành viên của nhóm phục hồi có thể bao gồm: 
 

  •  Bác sĩ/Bác sĩ chuyên khoa PHCN
  •  Điều dưỡng
  •  Kỹ thuật viên Vật lý trị liệu
  •  Kỹ thuật viên Hoạt động trị liệu
  •  Kỹ thuật viên Ngôn ngữ trị liệu
  •  Kỹ thuật viên Chân tay giả - Dụng cụ chỉnh hình
  •  Nhà dinh dưỡng học/chuyên gia dinh dưỡng
  •  Người làm công tác xã hội/người quản lý trường hợp bệnh
  •  Nhà tâm lý học 

 
Cách tiếp cận này tập trung vào tất cả các khía cạnh phát triển của trẻ (bao gồm các tình trạng sức khỏe phối hợp với bại não) và vào việc lập kế hoạch các can thiệp liên quan đến những nhu cầu quan trọng nhất của trẻ và gia đình thông qua hợp tác nhóm. Hợp tác của nhóm là quá trình hình thành các quan hệ đối tác giữa những người cung cấp dịch vụ, gia đình, trẻ và cộng đồng với mục tiêu chung là tăng cường sự phát triển của trẻ và hỗ trợ gia đình. 
 
Trong cách tiếp cận nhóm liên ngành, những nhà cung cấp dịch vụ hoạt động độc lập, nhưng nhận ra và đánh giá cao sự đóng góp của các thành viên khác trong nhóm. Cách tiếp cận này đòi hỏi sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm để đánh giá, lượng giá, và xây dựng kế hoạch can thiệp. Vai trò của mỗi thành viên trong nhóm được quy định và nhấn mạnh đến việc liên lạc thường xuyên và liên tục giữa các thành viên trong nhóm. Các mục tiêu chung được xây dựng với sự cộng tác của trẻ và gia đình. 
 
Trong tiếp cận nhóm đa ngành, các chuyên gia vẫn hoạt động độc lập, nhận biết và đánh giá cao đóng góp của các thành viên khác trong nhóm, tuy nhiên các mục tiêu được xây dựng cùng với trẻ và gia đình bởi mỗi thành viên trong nhóm (Effgen, 2006; Utley & Rapport, 2000). 
 
 
 
 
Các Khuyến cáo:

> Các dịch vụ PHCN nên bao gồm một Nhóm đa chuyên ngành sử dụng cách tiếp cận nhóm liên ngành để lập kế hoạch và cung cấp dịch vụ.

> Trong các nhóm đa ngành, các quá trình được thiết lập để thúc đẩy và tạo điều kiện cho việc làm việc và hợp tác theo nhóm bao gồm (nhưng không giới hạn ở) thảo luận về trường hợp, lưu giữ các hồ sơ và các ghi chép về diễn tiến người bệnh chung.