KHIẾM KHUYẾT THỊ GIÁC Ở TRẺ BẠI NÃO

Một phần mười trẻ bại não sẽ bị khiếm khuyết thị giác. Trẻ bại não có thể được chẩn đoán bị khiếm thị nguyên nhân tại mắt hoặc tại não, hoặc kết hợp cả hai (Denver và cộng sự, 2016, Ferzinger và cộng sự, 2011). 
 
 Các khiếm khuyết về thị giác do tổn thương não có thể được gọi là khiếm khuyết thị giác thần kinh, tại não hoặc vỏ não. Khả năng thị giác của một trẻ bại não có thể bị ảnh hưởng bởi bất thường ở bất cứ vị trí nào dọc theo đường truyền thị giác chính (mắt, thần kinh thị, đồi thị, các giải thị giác và vỏ thị giác chính), trong các vùng liên hệ thị giác, hoặc hệ thống vận nhãn (Denver và cộng sự, 2016).

 Các nguyên nhân chính gây suy giảm thị lực ở trẻ bại não có thể bao gồm: bệnh võng mạc do non tháng, bệnh đục thủy tinh thể bẩm sinh, và khiếm khuyết thị giác do não/vỏ não (CVI) (Denver và cộng sự, 2016).

 Những khiếm khuyết thị giác khác bao gồm các tật khúc xạ, cận thị, viễn thị, loạn thị, và lác mắt, ngoài báo cáo trẻ có 'khiếm khuyết nào đó' hoặc 'mù chức năng' (Denver và cộng sự, 2016). 

Trẻ bại não cũng có thể bị rối loạn xử lý thị giác làm giảm khả năng giải thích các thông tin đã ghi nhận thông qua hệ thống thị giác (Fzinginger và cộng sự, 2011, McCullough và cộng sự, 2007). 
 
(I) Các dấu hiệu lâm sàng của rối loạn thị giác: 
 
 Than phiền đau mắt dữ dội, đột ngột

 Than phiền nhìn đôi hoặc nhìn mờ

 Mất liên hợp hai mắt và phối hợp hai mắt kém

 Giảm chú ý đến các công việc đòi hỏi phải nhìn lâu

 Dễ bị phân tâm trong môi trường dễ lẫn lộn về thị giác ở nhà và trường học

 Chậm phát triển các kỹ năng đòi hỏi thị giác (như là nhận dạng chữ viết, đọc, viết)

 Vụng về bất thường và thường xuyên va đập vào người khác hoặc đồ vật 
 
(II) Sàng lọc khiếm khuyết thị giác 
 
>Khám mắt chú ý vào thị lực, tình trạng khúc xạ của hai mắt, nhãn cầu và lượng giá thị trường. 
 
>Khám hành vi về về thị lực chức năng chú trọng vào cách trẻ sử dụng các kỹ năng thị giác để hoàn thành các hoạt động hàng ngày. Điều này có thể bao gồm báo cáo của bố mẹ về khó khăn của trẻ khi sử dụng thị giác trong các hoạt động chức năng 
 
(III) Lượng giá chuyên biệt cho các khiếm khuyết thị giác 
 
>Bảng câu hỏi CVI sàng lọc khiếm khuyết thị giác vỏ não cho trẻ bị nghi ngờ bị CVI (khiếm khuyết thị giác vỏ não) (Ortibus và cộng sự, 2011). 
 
Người lượng giá: Bản câu hỏi CVI là một bản câu hỏi do phụ huynh trả lời có thể được thực hiện bởi một Kỹ thuật viên HĐTL, Kỹ thuật viên VLTL, điều dưỡng hoặc bác sĩ. 
 
Cách thực hiện: Bảng câu hỏi CVI gồm 47 câu hỏi, có thể được trao cho một phụ huynh để tự hoàn thành hoặc được thảo luận trong một cuộc phỏng vấn bán cấu trúc. Các đặc điểm CVI được đánh giá là có/không có. Nhân viên y tế có trách nhiệm tính tổng điểm và trao đổi thông tin với bác sĩ của trẻ. 
 
Thời gian: Khoảng 15 phút 
 
Có sẵn tại  http://download.lww.com/wolterskluwer_vitalstream_com/PermaLink/COOP/A/COOP_20 12_05_31_LEHMAN_656_SDC1.pdf 

>Bảng câu hỏi thị giác chức năng đánh giá hiệu năng thị giác hàng ngày ở trẻ bại não, là những trẻ rất khó đánh giá do các khiếm khuyết về giao tiếp, nhận thức và vận động nặng nề (Ferziger và cộng sự., 2011). 
 
Người lượng giá: Bảng câu hỏi thị giác chức năng là một đo lường do phụ huynh hoặc giáo viên báo cáo có thể được thực hiện bởi một Kỹ thuật viên HĐTL, Kỹ thuật viên VLTL, điều dưỡng hoặc bác sĩ.   Cách thực hiện: Bảng câu hỏi này gồm 26 mục, được chia thành hai phần. Phần 1 (các câu hỏi1-12) là lượng giá chung về sử dụng các kỹ năng vận động thị giác của trẻ trong lớp học, cả trong môi trường ánh sáng bình thường và ánh sáng yếu. Phần 2 (câu hỏi 13-26) lượng giá kỹ năng thị giác của trẻ trong các lĩnh vực chức năng sau: giao tiếp, SHHN, vui chơi và giải trí, và di chuyển đi lại và định hướng. Bảng câu hỏi có thể được đưa cho phụ huynh hoặc giáo viên để tự hoàn thành hoặc thảo luận trong một cuộc phỏng vấn bán cấu trúc sau một thời gian quan sát 2 tuần và trước khi khám mắt. Mỗi câu hỏi được đánh giá theo thang điểm thứ hạng 5 điểm phản ánh mức độ thực hiện từ kém đến rất tốt. Nhân viên y tế có trách nhiệm tính tổng điểm và chia sẻ thông tin với bác sĩ của trẻ. 
 
Thời gian: Khoảng 20 phút 
 
Có sẵn tại:https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/21309767 
 
>Bảng kiểm kỹ năng thị giác (VSI) đánh giá các kỹ năng thị giác và phản ứng với những tình huống quen thuộc ở trẻ bị khiếm khuyết thần kinh (McCullough và cộng sự, 2007). 
 
Người lượng giá: VSI là một đo lường do phụ huynh trả lời, có thể được cung cấp cho người chăm sóc bởi một Kỹ thuật viên HĐTL, Kỹ thuật viên VLTL, điều dưỡng hoặc bác sĩ. 
 
Cách thực hiện: Bảng câu hỏi phụ huynh trả lời gồm 22 câu hỏi được đánh dấu là có/không cho các hành vi thị giác; các điểm bổ sung cho một số hạng mục (ví dụ: tầm nhìn từ 6 feet đến <1 foot) (1 foot tương đương 30 cm). Nhân viên y tế có nhiệm vụ xem lại các câu trả lời cho bảng câu hỏi và chia sẻ thông tin với bác sĩ của trẻ. 
 
Thời gian: Khoảng 10 phút Có sẵn tại:https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/17880645 
 
(IV) Trách nhiệm của nhóm liên ngành trong xử lý các khiếm khuyết thị giác: 
 
Tất cả các nhân viên y tế làm việc với trẻ bại não đều có trách nhiệm nhận thức được các triệu chứng của khiếm khuyết thị giác và các khả năng can thiệp. 
 
 Các bác sĩ - thực hiện đánh giá toàn diện các kỹ năng thị giác và giới thiệu thích hợp đến các bác sĩ chuyên khoa có thể thực hiện khám mắt. Giới thiệu đến các chuyên gia về thị lực và các nhà trị liệu khác để huấn luyện về sử dụng các kỹ năng thị giác.

 Các kỹ thuật viên VLTL - hiểu được các dấu hiệu và triệu chứng của khiếm khuyết thị giác, đặc biệt là trong vận động chức năng và di chuyển. Hoàn thành các lượng giá thị giác chức năng và sử dụng các bảng câu hỏi phù hợp cho phụ huynh. Giới thiệu đến bác sĩ.

 Các kỹ thuật viên HĐTL - hiểu được các dấu hiệu và triệu chứng của khiếm khuyết thị giác, đặc biệt là trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, trò chơi, và các hoạt động ở trường. Hoàn thành các lượng giá thị giác chức năng và sử dụng các bảng câu hỏi phù hợp cho phụ huynh. Giới thiệu đến bác sĩ.

 Các kỹ thuật viên NNTL - hiểu được các dấu hiệu và triệu chứng của khiếm khuyết thị giác và ảnh hưởng đến giao tiếp chức năng, đặc biệt là sử dụng các kỹ thuật trợ giúp như các thiết bị giao tiếp tăng cường. Giới thiệu đến bác sĩ.

 Các điều dưỡng - hiểu được các dấu hiệu và triệu chứng của khiếm khuyết thị giác và giáo dục cho bố mẹ về việc xác định những khiếm khuyết thị giác. Hoàn thành các lượng giá thị giác chức năng và sử dụng các bản câu hỏi phù hợp cho phụ huynh. Giới thiệu đến bác sĩ. 
 
Khuyến cáo: >Các khiếm khuyết thị giác có thể ảnh hưởng đến việc tham gia các hoạt động tại nhà và ở trường. Trẻ cần được sàng lọc sớm về các khiếm khuyết thị giác để bắt đầu điều trị sớm tránh ảnh hưởng đến khả năng xử lý thị giác chung.