TÌNH TRẠNG LOÃNG XƯƠNG Ở TRẺ BẠI NÃO

Trẻ bại não có nguy cơ gãy xương do loãng xương thứ phát (thiếu xương do giảm chịu trọng lượng). Thiếu xương kèm theo chấn thương (ví dụ như ngã) có thể dẫn đến gãy xương và gây đau. Trẻ bại não không đi lại được có 20% khả năng bị gãy xương do dễ vỡ. Thông thường gãy xương ở thân các xương dài như đầu dưới xương đùi (AACPDM, 2016). 
 
Dưới đây là các yếu tố nguy cơ độc lập về mật độ xương thấp ở trẻ em và thanh thiếu niên bại não: 
 
 Không đi lại được (GMFCS mức IV hoặc V)

 Thiếu vitamin D

 Có khó khăn vềăn uống và nuốt hoặc lo lắng về tình trạng dinh dưỡng

 Trọng lượng thấp so với tuổi (dưới 2 phần trăm)

 Bệnh sử gãy xương với lực tác động thấp  Sử dụng thuốc chống động kinh (NICE, 2017) 
 
(I) Xử lý loãng xương: 
 

Phòng ngừa 
 
Cần thông tin cho thanh thiếu niên bại não/trẻ bại não và bố mẹ hoặc người chăm sóc nếu trẻ có nguy cơ gãy xương với lực tác động thấp. 
 
Nếu trẻ bại não có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ mật độ xương thấp: 
 
 Hãy đánh giá chế độ ăn của trẻ về lượng canxi và vitamin D và

 Cân nhắc các xét nghiệm cận lâm sàng về tình trạng canxi và vitamin Dsau đây:

 Canxi, phosphate và phosphatase kiềm huyết thanh 

 Vitamin D huyết thanh

 Tỷ lệ canxi/creatinin trong nước tiểu 
 
Tạo kế hoạch chăm sóc phù hợp với cá nhân cho trẻ và thanh thiếu niên bại não có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ mật độ xương thấp. 
 
Xem xét các biện pháp can thiệp sau đây để giảm nguy cơ giảm mật độ xương và gãy xương với lực tác động thấp:

 Một chương trình vận động chủ động

 Chịu trọng lượng chủ động

 Các can thiệp về chế độ ăn phù hợp, bao gồm hỗ trợ dinh dưỡng và bổ sung canxi và vitamin D

 Giảm thiểu các rủi ro liên quan đến vận động và thao tác với trẻ 
 
Điều trị gãy xương do loãng xương thứ phát 
 

Nếu một trẻ bại não bị gãy xương do loãng xương hãy tiến hành các thăm dò bổ sung. Các xét nghiệm có thể bao gồm xét nghiệm máu (Can xi, Phốt pho, hormon cận giáp), chụp Xquang vị trí gãy xương, và đo mật độ xương (DEXA). 
 
Đảm bảo dinh dưỡng, Can xi và Vitamin D đầy đủ. Tham vấn bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình nhi khoa về xử trí gãy xương. 
 
Cũng nên cân nhắc sử dụng thuốc bisphosphonate ở trẻ em mặc dù độ an toàn về lâu dài của thuốc này lên xương đang phát triển vẫn chưa được biết rõ. Các bisphosphonate giúp tăng mật độ xương thông qua ức chế sự tái hấp thu xương. Nên khám một bác sĩ chuyên môn về xương (bác sĩ nội tiết, bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình, bác sĩ chuyên môn đặc biệt tới sức khoẻ xương). Ở trẻ em, bisphosphonate thường được tiêm tĩnh mạch 3-4 lần mỗi năm thay vì uống. 
 
(II) Các trách nhiệm của Nhóm đa chuyên ngành trong xử lý loãng xương: 
 
Tất cả các nhân viên y tế làm việc với trẻ bại não đều có trách nhiệm nhận biết về các yếu tố nguy cơ gây loãng xương và gãy xương do dễ vỡ ở trẻ bại não và có thể hỗ trợ các gia đình với các thông tin về tiên lượng. 
 
 Các bác sĩ - các thăm dò xét nghiệm y học, các can thiệp về chế độ dinh dưỡng, điều trị bisphosponate, giới thiệu đến các bác sĩ chuyên khoa.

 Các kỹ thuật viên VLTL - các chương trình vận động và chịu trọng lượng chủ động, chỉ định và thực hiện kỹ thuật trợ giúp và tăng cường (ATT) cho tư thế đứng, giáo dục bố mẹ/người chăm sóc về cách cầm nắm và di chuyển trẻ, giới thiệu đến bác sĩ.

 Các kỹ thuật viên HĐTL - các chương trình vận động và chịu trọng lượng chủ động, chỉ định và thực hiện các kỹ thuật trợ giúp và tăng cường (ATT) cho tư thế đứng, vui chơi, và các hoạt động hàng ngày, giáo dục bố mẹ/người chăm sóc về cách cầm nắm và di chuyển trẻ, giới thiệu đến bác sĩ.

 Các kỹ thuật viên NNTL - trợ giúp với các khuyến cáo sử dụng AAT đối với hoạt động đứng, vui chơi và hoạt động hàng ngày khi liên quan đến giao tiếp chức năng, giới thiệu đến bác sĩ.

 Các điều dưỡng - hỗ trợ thông tin cho gia đình, hỗ trợ thực hiện các can thiệp dinh dưỡng tiết chế được chỉ định, giới thiệu đến bác sĩ