TÌNH TRẠNG TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN Ở TRẺ BẠI NÃO

Trào ngược dạ dày-thực quản đề cập đến sự đi ngược của các chất chứa trong dạ dày lên thực quản, họng, hoặc khoang miệng (Kim, Koh, & Soo Lee, 2017). 
 
 Trào ngược mạn tính và trầm trọng được gọi là bệnh trào ngược dạ dày-thực quản (GORD) và có thể gây triệu chứng đau hoặc các biến chứng làm cản trở sự tham gia và chất lượng cuộc sống (Sherman và cộng sự, 2009).

 GORD thường gặp ở trẻ bại não hơn so với trẻ bình thường và có thể ảnh hưởng đáng kể đến việc đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ (Trinick, Johnston, Dalzell, & McNamara, 2012).

 Cơ chế chính của trào ngược được cho là do mất hoặc giãn trương lực cơ vòng thực quản dưới. Các cơ chế khác được gợi ý là chậm làm trống dạ dày và giảm chức năng vận động dạ dày- tá tràng (Kim, Koh, & Soo Lee, 2017). 
 
(I) Các triệu chứng và dấu hiệu của GORD 
 
 Viêm phổi hít tái phát

 Làu bàu sau bữa ăn

 Ợ hoặc ói mửa thường xuyên

 Than phiền về đau ngực và "ợ nóng" sau bữa ăn

 Từ chối thức ăn mà không giải thích được

 Tăng kích thích trong khi ăn; từ chối thức ăn

 Tư thế căng hoặc cứng đờ sau bữa ăn

 Thay đổi chất giọng; giọng khàn tiếng 
 
(II) Các thăm dò và can thiệp cho trào ngược dạ dày-thực quản: 

1) Theo dõi độ pH - Một đầu dò theo dõi độ pH qua ống thông được đặt qua đường mũi của trẻ đến phần dưới của thực quản trong 24 giờ để ghi lại các đợt trào ngược axit. Ghi lại chỉ số trào ngược axit; đây là tỷ lệ phần trăm thời gian trong quá trình theo dõi mà trị số pH nhỏ hơn bốn. Đối với trẻ nhũ nhi và trẻ em, trên 12% và 6% được xem là một dấu hiệu bệnh lý của bệnh trào ngược axit (Kim, Koh, & Soo Lee, 2017). 
 
2) Thăm dò trở kháng nội thực quản đa kênh- Một đầu dò theo dõi trở kháng qua ống thông được đặt qua đường mũi của trẻ đến phần dưới thực quản trong 24 giờ để ghi lại các đợt trào ngược axit và không axit. Các kết quả bất thường cho thăm dò trở kháng đã được xác định thông qua các dữ liệu dành cho trẻ nhỏ trong y văn hiện tại, với các giá trị bình thường được định nghĩa là 70 lần biểu hiện trào ngược trong một khoảng thời gian 24 giờ, trong đó 25% là axit và 73% không axit. Tuy nhiên, theo dõi độ pH và thăm dò trở kháng nội thực quản là các dấu chỉ điểm kém của trào ngược bệnh lý ở trẻ nhũ nhi và không đủ để phân biệt người bệnh nào sẽ được lợi từ phẫu thuật khâu nếp gấp phình vị (Fike và cộng sự, 2012). 
 
3) Phẫu thuật khâu nếp gấp phình vị theo Nissen - một trong những can thiệp phẫu thuật phổ biến nhất để điều trị GERD. Phẫu thuật này được thực hiện qua nội soi ổ bụng nhằm bao bọc bờ cong trên của dạ dày (phình vị) quanh phần dưới của thực quản. Phình vị được khâu cố định để cho phần dưới của thực quản đi qua một đường hầm nhỏ tạo bởi cơ của dạ dày (Kim, Koh, và Soo Lee, 2017) 
 
(III) Trách nhiệm của nhóm đa chuyên ngành trong xử lý trào ngược dạ dày thực quản: 
 
Tất cả các nhân viên y tế làm việc với trẻ bại não đều có trách nhiệm nhận biết được các triệu chứng của GORD và những can thiệp có thể thực hiện. 
 
 Các bác sĩ - thực hiện đánh giá toàn diện về GORD và tình trạng chung về dinh dưỡng và giới thiệu phù hợp để đánh giá thêm về trào ngược axit và không axit. Giới thiệu đến bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa để đánh giá khả năng phẫu thuật, chẳng hạn như khâu nếp gấp phình vị theo Nissen. Giới thiệu đến các nhà trị liệu để đánh giá thêm về cho ăn và các hành vi trong lúc ăn nói chung.

 Các kỹ thuật viên VLTL - hiểu được các dấu hiệu và triệu chứng của trào ngược và đánh giá đặt tư thế sau bữa ăn có thể làm giảm tỷ lệ các đợt trào ngược. Giới thiệu đến bác sĩ.

 Các kỹ thuật viên HĐTL - hiểu các dấu hiệu và triệu chứng của trào ngược và đánh giá các hành vi trong bữa ăn và các can thiệp về cách cho ăn có thể làm giảm tỷ lệ các đợt trào ngược. Giới thiệu đến bác sĩ.

 Các kỹ thuật viên NNTL - hiểu các dấu hiệu và triệu chứng của trào ngược và đánh giá các hành vi trong bữa ăn và các can thiệp về cách cho ăn có thể làm giảm tỷ lệ các đợt trào ngược. Giới thiệu đến bác sĩ. 

Các điều dưỡng - hiểu được các dấu hiệu và triệu chứng của trào ngược và giáo dục cho phụ huynh về các dấu hiệu của trào ngược, các đánh giá y học có thể thực hiện và các can thiệp phẫu thuật. Giới thiệu đến bác sĩ.